Bài 2: Văn hóa Tây Âu từ thế kỉ V đến thế kỉ XIV

Mời các bạn cùng tham khảo nội dung bài giảng Bài 2: Văn hóa Tây Âu từ thế kỉ V đến thế kỉ XIV sau đây trên eLib.VN để tìm hiểu về những nét đặc trưng về văn hóa, giáo dục, nghệ thuật của nền văn hóa Tây Âu trong giai đoạn từ thế kỉ V đến thế kỉ XIV.

Bài 2: Văn hóa Tây Âu từ thế kỉ V đến thế kỉ XIV

1. Văn hóa Tây Âu từ thế kỉ V đến thế kỉ X

1.1 Tình hình chung về văn hóa, giáo dục và tư tưởng

Vào thời kì cuối của đế quốc La Mã, cùng với sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ chiếm hữu nô lệ và sự suy sụp toàn diện về kinh tế, nền văn hóa huy hoàng một thời cũng bị lụi tàn.

Những cuộc chinh phục liên tiếp của các tộc Giécmanh trên lãnh thổ của đế quốc đã tàn phá nặng nề những di sản của nền văn minh cổ đại. Chỉ có một thứ hầu như không bị phạm, đó là các nhà thờ và tu viện của đạo Kitô. Chính vì thế, chỉ có ở những cơ sở tôn giáo này mới giữ lại được một số thành tựu của nền văn hóa cổ đại.

Trong khi đó, các vương quốc của người Giécmanh mới thành lập không hề chú ý tới sự nghiệp văn hóa giáo dục, cho nên hầu hết giai cấp quý tộc, kể cả nhà vua, đều mù chữ. Toàn xã hội không có trường học nào khác ngoài những trường lớp do giáo hội mở để đào tạo giáo sĩ.

Tuy giáo sĩ là tầng lớp có văn hóa duy nhất trong xã hội nhưng nói chung trình độ học thức của họ rất có hạn, số người có trình độ học vấn tương đối cao rất ít.

Do nhiệm vụ của việc giáo dục lúc bấy giờ chỉ là đào tạo giáo sĩ, nên nội dung học tập chủ yếu là thần học, môn học được suy tôn là "Bà chúa của khoa học". Ngoài thần học, còn có các môn Ngữ pháp, Tu từ học, Logic học, Số học, Hình học, Thiên văn học và Âm nhạc, được gọi là "Bảy môn nghệ thuật tự do". Các môn học này đều là những môn phụ trợ và phải phục vụ cho Thần học.

Trong số bảy môn học này, môn Ngữ pháp được đặc biệt chú trọng, do đó thường được vẽ hình một bà hoàng đầu đội mũ miện làm biểu tượng. Nhiệm vụ của môn Ngữ pháp là dạy tiếng Latinh, thứ ngôn ngừ chính dùng trong các nghi thức ở nhà thờ và để đọc kinh thánh.

Logic học được gọi là "đày tớ của thần học" cùng với môn Tu từ học chủ yếu dạy thuật hùng biện để biện hộ cho Kitô giáo chiến thắng các tà giáo. Số học dùng để giải thích một cách thần bí những con số gặp trong kinh thánh, đồng thời để biết tính toán đếm được gạch ngói khi xây dựng các cơ sở của giáo hội là được. Hình học là môn học miêu tả về quả đất, nhưng do sự hiểu biết có hạn nên nội dung thường sai lầm, thậm chí rất hoang đường. Ví dụ: Trong một quyển sách tham khảo của môn Hình học có một đoạn như sau:

"Đây là bộ mặt không phải người ở một sa mạc hoang vu (ở Etiôpi) và ở các loại bộ lạc kì quái. Một số bộ lạc không có mũi, tất cả bộ mặt của họ đều giống nhau và tầm thường... miệng của một bộ lạc khác thì dính lại với nhau, họ chỉ có một lỗ nhỏ để hút thức ăn bằng bột mì... Còn người Etiôpi của tộc Môrơ thì có bốn mắt, đó là vì để bắn cho chính xác".

Môn Thiên văn học chủ yếu là để chọn ngày cho nhà thờ làm lễ. Còn quan niệm về trời đất của họ lúc bấy giờ thì hoàn toàn trái với khoa học. Họ kiên quyết chống lại thuyết quả đất hình cầu, vì họ lập luận rằng: nếu nói mặt đất hình cầu thi phải thừa nhận có những người phải đi lộn đầu xuống đất, mà như thế thì không thể được. Vì vậy, theo giáo lí của đạo Kitô, mặt đất giống như một cái mâm tròn nổi trên mặt biển, còn trời giống như một cái mái tròn có bốn cột chống đỡ. Trung tâm của mặt đất là Giêrudalem.

Như vậy, tình hình văn hóa giáo dục ở Tây Âu trong thời kì này rất thấp kém và hoàn toàn bị giáo hội Kitô lũng đoạn. Hơn nữa, một khi trở thành kẻ được bảo tồn một số thành tựu của văn hóa cổ đại, giáo hội chỉ giữ lại những gì có lợi cho mình, còn những gì trái với giáo lí của đạo Kitô đều bị hủy bỏ hoặc cắt xén một cách không thương tiếc. Việc đó càng làm cho nền văn hóa Tây Âu bị suy sụp nghiêm trọng. Do vậy, Ăngghen đã nhận định rằng:

"Thời Trung cổ đã phát triển trên một cơ sở hoàn toàn thô sơ Nó đã xóa sạch nền văn minh cổ đại, nền triết học, chính trị, luật học có đại để lại bắt đầu tất cả ngay từ đầu. Điều duy nhất mà nó mượn được của thế giới cổ đại đã diệt vong là đạo Kitô và một số thành thị nửa tàn phá đã mất hết nền văn minh củ của chúng. Kết quả là, cũng giống như ở tất cả những giai đoạn phát triển lúc ban đầu, bọn giáo sĩ chiếm độc quyền trí dục và bản thân nền giáo dục cũng mang tính chất chủ yếu là thần học. Trong tay giáo sĩ, chính trị và luật học cũng như tất cả những khoa học khác vẫn chỉ là những ngành của khoa thần học, và chính những nguyên lí thống trị trong thần học cũng được áp dụng cho chính trị và luật học. Những giáo lí của giáo hội đồng thời cũng là những định lí chính trị và những đoạn kinh thánh cũng có hiệu lực trước mọi tòa án như là luật pháp”.

Song song với việc lũng đoạn về văn hóa giáo dục, giáo hội còn tích cực truyền bá hệ tư tưởng của đạo Kitô thời Trung đại mà trong đó chủ yếu là chủ nghĩa cấm dục.

Người, đặt cơ sở cho hệ tư tưởng này là Ôguxtin (Augustin, 354- 430), giám mục xứ Híppôn (ở nước Angiêri ngày nay). Lúc bấy giờ đế quốc Rôma đang lâm vào tinh trạng khủng hoang trầm trọng, có nhiều người cho rằng sở dĩ như vậy là vì người Rôma theo đạo Kitô nên bị thần trừng phạt. Ôguxtin bèn viết quyển "Thành phố của Chúa trời" (La Cité de Dieu) để biện hộ cho đạo Kitô. Trong tác phẩm này, ông chỉ ra rằng chỉ có ở thành phố của Chúa trời (tức là Thiên đường) người ta mới được sống trong cảnh sung sướng mãi mãi, còn ở thế giới trần tục này thì đầy rẫy tội ác và đau khổ. Vì vậy, muốn giũ sạch mọi tội lỗi để sau khi chết linh hồn được cứu vớt và được lên thiên đường thi phải ăn chay, sám hối, cấm dục, thoát li khỏi cuộc sống trần tục, đi tu trong nhà tu kín. Hơn nữa, tất cả mọi thứ ở đời đều do Chúa trời Sắp đặt. Chỉ có những người bằng lòng với số phận của mình, ngoan ngoãn phục tùng, một lòng tin thờ Chúa thì mới mong được cứu vớt... Rõ ràng là quan điểm đó rất phù hợp với lợi ích của giáo hội và chế độ phong kiến. Do đó, nó được coi là nền tảng của hệ tư tưởng và quan điểm đạo đức của giáo hội Kitô thời Trung đại. Cùng với tình trạng kém phát triển về văn hóa giáo dục, sự gieo rắc tư tưởng này đă có tác dụng kìm hãm rất lớn đối với tư tưởng và tình cảm của nhân dân trong non 10 thế kỉ.

1.2 Cái gọi là "Văn hóa phục hưng thời Carôlanhgiêng"

Tuy nói chung, trong suốt 5 thế kỉ thời sơ kì phong kiến, nền văn hóa Tây Âu rất thấp kém, nhưng riêng dưới thời Sáclơmanhơ thì có phát triển ít nhiều. Lúc bấy giờ, Phrăng phát triển thành một đế quốc rộng lớn. Để có nhiều quan lại quản lí các công việc của nhà nước như tổ chức, tài chính, ngoại giao v.v... và để có nhiều giáo sĩ cảm hóa nhân dân, nhất là đối với những vùng mới chinh phục, Sáclơmanhơ rất chú ý đến việc phát triển văn hóa giáo dục. Ông mở trường học cung đình, khuyến khích con em quý tộc theo học và mời các học giả nổi tiếng ở Tây Âu đến giảng dạy.

Người đóng vai trò quan trọng nhất trong trường học cung đình và cũng là người được Sáclơmanhơ đặc biệt ưu ái là Anquyn (Alcuin, 735-804), một giáo sĩ người Anh. Chính Anquyn đã nói về nhiệm vụ và mục đích của mình trong thư gửi cho Sáclơmanhơ như sau:

"Thần xin cố gắng hết sức vào việc bồi dưỡng thật nhiều người có khả năng phục vụ giáo hội thần thánh của đức Chúa trời và để trang sức cho chính quyền của hoàng đế.

Ngoài Anquyn còn củ nhiều học giả các nước khác như Pie, Paolô người Ý, nhà thư Têôđunphơ (Theodulf), Êginha (Eginhard) người Tây Ban Nha... Do vậy cung đình của Sáclơmanhơ trở thành trung tâm học thuật của Tây Âu lúc bây giờ, thêm nữa trường học cung đình của Sáclơmanhơ đã có ảnh hưởng rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng các trường học của giáo hội trong cả nước. Chính vì thế, các nhà sử học phương Tây đã gọi phong trào học thuật này là "Phong trào văn hóa phục hưng thời Carôlanhgiêng".

Tuy nhiên, về thực chất thì phong trào học thuật này vẫn lấy thần học làm nội dung học tập chủ yếu, lấy cung đình và nhà thờ làm trung tâm, khác hẳn với phong trào văn hóa phục hưng lấy thành thị làm trung tâm ở Ý sau này. Chính Anquyn đã nói rõ vấn đề đó trong lời tựa của quyển sách ngữ pháp do ông biên soạn như sau:

"Các trò thân mến, hãy dọc theo con đường nhỏ tối tăm này tiến lên, tiến đến đỉnh cao nhất của Kinh Thánh, các trò sẽ càng trưởng thành và trí tuệ sẽ càng vững chắc".

Hơn nữa trình độ hiểu biết của các nhà tri thức lúc đó cũng còn rất thấp. Những tài liệu giáo khoa về ngữ pháp, Tu từ học, Thiên văn học... lúc bấy giờ thường được soạn dưới hình thức vấn đáp giữa thầy và trò và nội dung của nó cũng thường rất ngộ nghĩnh. Đoạn đối thoại sau đây giữa Anquyn và Hoàng tử Pêpanh, con thứ hai của hoàng đế Sáclơmanhơ là một ví dụ:

Pêpanh hỏi: Chữ cái là gì?

Anquyn đáp: Là người lính gác của lịch sử.

Hỏi: Văn tự là gì?

Đáp: Là kẻ phản bội của linh hồn.

Hỏi: Cái gi sinh ra văn tự?

Đáp: Ngôn ngữ.

Hỏi: Ngôn ngữ là gì?

Đáp: Là cái roi của không khí.

Hỏi: Không khí là gì?

Đáp: Là kẻ bảo vệ tính mệnh.

Hỏi: Con người là gì?

Đáp: Là nô lệ của tuổi già, là người qua đường, là khách ở trong nhà mình.

Hỏi: Con người giống cái gì?

Đáp: Giống quả cầu.

Hỏi: Con người được xếp đặt như thế nào?

Đáp: Như ngọn đèn trước gió.

Hỏi: Năm là gì?

Đáp: Là cái xe của thế giới.

Hỏi: Xe chở ai?

Đáp: Đêm, ngày, lạnh và nóng.

Hỏi: Người đánh xe là ai?

Đáp: Mặt trời và mặt trăng.

Thời gian tồn tại của cái gọi là phong trào Văn hóa phục hưng Carôlanhgiêng cũng rất ngắn ngũi. Sau khi Sáclơmanhơ chết (814) không bao lâu, đế quốc do ông thành lập không duy trì được sự thống nhất nữa. Và sự phát triển tạm thời vể văn hóa cũng suy sụp.

2. Văn hóa Tây Âu từ thế kỉ XI đến đầu thế kỉ XIV

Đến thế kỉ XI, kinh tế công thương nghiệp ở Tây Âu bắt đầu phát triển dần tới sự ra đời của thành thị và một tầng lớp cư dân mới là thị dân. Do sự thúc đẩy của những điều kiện xã hội mới, nền văn hóa Tây Âu cũng bắt đầu khởi sắc. Sự phát triển bước đầu của văn hóa Tây Âu trong thời kì này biểu hiện ở các mặt như sự ra đời của các trường đại học, những thành tựu về triết học, văn học, kiến trúc.

2.1 Sự thành lập các trường đại học

Cùng với sự phát triển về kinh tế, sự đòi hỏi con người về các loại tri thức cũng tăng lên, nhưng các trường học của giáo hội không đáp ứng được những yêu cầu đó, vì vậy trường học của thành thị dần dần ra đời.

Đầu tiên, từ thế kỉ X, nhiều trường học không dính dáng gì đến giáo hội đã được thành lập ở các thành thị của Ý, tiếp đó là ở các thành phố khác ở Tây Âu. Những trường học thành thị này là cơ sở để phát triển thành các trường đại học sau này.

Trường đại học ra đời sớm nhất ở Tây Âu là trường đại học Bôlôna ở Ý được thành lập vào thế kỉ XI mà tiền thân của nó là trường Luật Bôlôna. Sang thế kỉ XII, XIII nhiều trường đại học khác đã lần lượt xuất hiện như Trường đại học Pari, Trường đại học Oóclêăng ở Pháp; Trường đại học Oxphớt (Oxford), Trường đại học Kembrit (Cambridge) ở Anh; Trường đại học Xalamanca ở Tây Ban Nha; Trường đại học Palécmơ ở Ý v.v... Đến cuối thế kỉ XIV ở châu Âu đã có tất cả hơn 40 trường đại học.

Khi mới thành lập, các trường đại học này gọi là "trường phổ thông" (Etudia generalia), sau dần dần mới gọi là trường đại học (Universitas). Chữ "universitas" nghĩa đen là "liên hợp" vì trường đại học lúc đầu thực sự là một tổ chức liên hợp gồm các đoàn thể của sinh viên và giáo sư, những đoàn thể này được lập ra để bảo vệ quyền lợi của các thành viên giống như các phường hội của thợ thủ công.

Trong số các trường đại học ở Tây Âu lúc bấy giờ, điển hình nhất và cũng nổi tiếng nhất là Trường đại học Paris, ra đời từ nửa đầu thế kỉ XII. Sinh viên ở đây lập thành 4 hội đồng hương là Noócmăngđi, Anh, Gôlơ và Picácđi. Các giáo sư cũng gia nhập những tổ chức mà về sau phát triển thành các khoa. Đến cuối thế kỉ XII, các tổ chức của sinh viên và giáo sư mới bắt đầu liên hợp lại, bầu ra Hiệu trưởng để điều hành việc giảng dạy và học tập. Năm 1200, quy chế do trường đặt ra được vua Philip II phê chuẩn, và như vậy, trường đại học Paris được chính thức thành lập.

Trường đại học Paris có 4 khoa là Nghệ thuật, Y học, Luật học, và Thần học, trong đó Nghệ thuật là khoa sơ cấp, chương trình học tập là "bảy môn nghệ thuật tự do". Tốt nghiệp bậc sơ cấp thi được cấp băng Cử nhân. Các khoa Y học, Luật học và Thần học thuộc về bậc cao cấp. Chỉ những người đã có bằng cử nhân mới được tiếp tục học. Tốt nghiệp bậc cao cấp thi được cấp bằng Thạc sĩ hay Tiến sĩ. Những người có bằng cử nhân, Thạc sĩ hay Tiến sĩ mới được làm giáo sư giảng dạy ở trường đại học.

Ngôn ngữ dùng để giảng dạy trong nhà trường là tiếng Latinh. Phương pháp học tập là lên lớp nghe giảng, ghi chép và thảo luận, trong đó thảo luận giữ vai trò rất quan trọng. Khi tốt nghiệp, sinh viên phải làm luận văn và phải bảo vệ luận văn.

Phương pháp tổ chức giảng dạy và học tập ở các trường đại học khác ở châu Âu cũng tương tự như thế. Như vậy, nội dung học tập trong các trường đại học ở châu Âu trong thời kì này không phải chỉ là thần học và các thầy giáo không phải là các giáo sĩ mà là những người thường. Thế là trường đại học đã thoát li khỏi Giáo hội và phát triển một cách tự do, đó là điều giáo hội không thể chấp nhận được, nên giáo hội phải tìm cách nắm lấy trường đại học, loại trừ các giáo sư có tư tưởng chống lại giáo hội và ca ngợi lí trí con người. Đến giữa thế kỉ XIII, Trường đại học Paris bị giáo hội khống chế hoàn toàn. Nhiều giáo sư tiến bộ bị đuổi và thay thế bằng các giáo sĩ. Từ đó môn học chiếm vị trí quan trọng nhất trong trường đại học là môn triết học kinh viện. Tuy nhiên Y học và Luật học là những môn học thực dụng nên vẫn được duy trì.

2.2 Triết học kinh viện

Triết học kinh viện là một thuật ngữ dịch từ chữ scolasticus trong tiếng Latinh, nghĩa là triết học nhà trường, vì đó là một môn học rất được chú trọng trong các trường đại học lúc bấy giờ.

Được hình thành vào khoảng thế kỉ XI, XII, môn học này gắn liền với tên tuổi của các học giả như Anxenmơ (1033-1109), Rốtxơlanh, Guyôm đơ Sămpô (1068-1122), Abêla (1079-1142)... Sang thế kỉ XIII, XIV, thuộc về đội ngũ các nhà triết học kinh viện còn có Anbe vĩ đại (1193-1280), Râugiơ Bâycơn (khoảng 1214-1292), Tômát Đacanh (1225-1274), Đoong Xcốt (1270-1308), Uyliêm Ôccam (1270-1347) v.v... Cũng trong quá trình ấy, vào thế kỉ XII, tại cung đình vương quốc Noócmăng ở đảo Xixin và trường đại học Tôlêđô ở Tây Ban Nha, các học giả đã tiến hành phiên dịch những tác phẩm của Hi Lạp cổ đại đã được dịch ra tiếng Arập và các tác phẩm của các nhà khoa học Arập, đồng thời còn dịch các tác phẩm bằng tiếng Hi Lạp được bảo tồn ở Bidantium. Việc đó đã làm cho sự hiểu biết của người Tây Âu càng được mở rộng, nhưng các nhà triết học kinh viện muốn khai thác kiến thức ấy để phục vụ cho thần học, do đó đã vận dụng một cách xuyên tạc học thuyết của các triết gia Hi Lạp và La Mã cổ đại, nhất là của Arixtốt, người có thành tích lớn nhất về mặt này là Anbe, một giáo sĩ người Đức. Ông đã chú thích toàn bộ các tác phẩm của Arixtốt thuộc các lĩnh vực Logic học, Siêu hình học, Luân lí học, Vật lí học, Thiên văn học, Địa lí học, Động vật học, Thực vật học, qua đó để chứng minh rằng giáo lí của đạo Kitô không hề trái ngược với triết học và khoa học tự nhiên. Chính vì sự hiểu biết của ông uyên bác như vậy, nên ông được gọi là Anbe vĩ đại. Triết học kinh viện có một đặc điểm là áp dụng phương pháp biện luận cực kì rắc rối, rất chú trọng lôgic hình thức. Nói chung các nhà triết học kinh viện cho rằng, đối với các hiện tượng tự nhiên người ta không cần phải quan sát, thí nghiệm mà chỉ cần dùng phương pháp tư duy trừu tượng cũng có thể đạt đến chân lí. Tuy nhiên, trong khi nghiên cứu vấn đề khái niệm chung, các nhà triết học kinh viện đã chia làm hai phái là phái duy danh (nominalisme) và phái duy thực (réalisme). Phái duy danh cho rằng khái niệm chung do tư duy con người sáng tạo ra, là tên gọi của các vật thể riêng lẻ và các vật thể riêng lẻ có trước khái niệm chung. Còn phái duy thực thì cho rằng trước khi có một vật thể nào đó thì khái niệm về vật thể ấy đã tồn tại, đã có thực rồi. Như vậy, duy thực là chủ nghĩa duy tâm hoàn toàn, còn duy danh là trường phái có nhân tố của chủ nghĩa duy vật. Chính vì thế, tuy vẫn tin Chúa nhưng các nhà duy danh thường bị giáo hội ngược đãi và rút phép thông công, trái lại những người duy thực rất được đề cao, trong đó người tiêu biểu nhất là Tômát Ackinát (Thomas Acquinas), người ta quen gọi Tômát Đacanh (Thomas d'Aquin), một giáo sĩ người Ý, học trò của Anbe vĩ đại.

Ông đã biên soạn nhiều tác phẩm trong đó quan trọng nhất là "Thần học toàn thư" (Somme théologique). Tác phẩm này rất đồ sộ, chia làm bốn phần, gồm 100 chương, trong đó dùng quan điểm của giáo hội để giải quyết 1.000 vấn đề thần học và bác lại 10.000 thuyết. Ông cho rằng vũ trụ chia làm nhiều đẳng cấp, bắt đầu là phi sinh vật, dần dần lên đến người tín đồ, thiên sứ rồi cao nhất là Chúa trời. Mỗi một đẳng cấp thấp đều muốn vươn lên đẳng cấp cao, vì vậy cả hệ thống ấy đều hướng về Chúa trời, Chúa là mục đích cuối cùng của vũ trụ.

Tác phẩm này được giáo hội thừa nhận là một sự tổng kết về giáo lí của đạo Thiên chúa. Do công lao ấy, sau khi ông chết không lâu, đến đầu thế kỉ XIV ông được giáo hội phong Thánh.

Trong số các nhà triết học kinh viện có một trưòng hợp ngoại lệ đặc biệt, đó là Râugiơ Bâycơn (Roger Bacon), một giáo sĩ người Anh và là giáo sư Trường đại học Oxphớt (Oxford).

Trái với Tomát Đacanh, Râugiơ Bâycơn rất chú ý nghiên cứu vật lí học và hóa học, rất coi trọng phương pháp thí nghiệm và đã có nhiều cống hiến về mặt quang học. Chính ông là người đầu tiên giải thích hiện tượng cầu vồng, cũng là người biết chú ý đến từ tính của nam châm, rất đề cao toán học, coi đó là cơ sở không thể thiếu được của tất cả mọi tri thức.

Đi trước thời đại của mình, ông có nhiều dự kiến thiên tài như: người ta có thể chế tạo được những loại kính "để cự li rất xa mà có thể đọc được những chữ rất nhỏ, phân biệt được những vật hết sức bé, quan sát các vì sao"; có thể chế tạo được những chiếc thuyền đi biển và đi sông rất lớn mà chỉ cần một người điều khiển chứ không cần mái chèo. Ông cũng đã nghĩ đến chiếc xe bốn bánh chạy rất nhanh và không cần ngựa kéo, nghĩ đến máy bay, "người ngồi trong đó cánh đập không khí bay như chim", nghĩ đến cần trục, đến cầu không có cột v.v...

Do những hiểu biết sâu rộng ấy, ông được gọi là "nhà bác học đáng khâm phục", nhưng cũng vì những đề xuất mạnh dạn ấy, ông bị giáo hội kết tội là một tên phù thủy đề xướng dị đoan và bị bắt bỏ ngục. Mãi 14 năm sau ông mới được tha, nhưng lúc đó ông đã hết sức già yếu, nên được hai năm thì chết.

Sang thế kỉ XIV, triết học kinh viện bắt đầu suy thoái. Từ đây các nhà triết học kinh viện không nghiên cứu khoa học tự nhiên và các tác phẩm cổ điển nữa mà chỉ làm công việc biện hộ cho giáo lí của đạo Thiên chúa mà thôi, đồng thời họ đấu tranh mạnh mẽ với những nhà khoa học của giai cấp tư sản mối ra đời tức là những người theo chủ nghĩa nhân văn.

2.3 Văn học

Đến thời kì này, ngoài văn học dân gian bao gồm các bài hát, các truyện kể... và văn học La tinh (hay văn học nhà thờ) bao gồm thơ, kịch, truyện viết bằng tiếng Latinh về đề tài tôn giáo, còn có hai loại văn học mới thể hiện sự phát triển của nền văn học Tây Âu là văn học kị sĩ và văn học thành thị.

Vào khoảng thế kỉ XII, do sự trưởng thành của mình và do chịu ảnh hưởng của vàn minh thành thị, giai cấp quý tộc phong kiến Tây Âu đòi hỏi phải có một dòng văn học phục vụ cho đời sống tinh thần của mình. Trong hoàn cảnh ấy, có nhiều văn nhân du khách vào tận các lâu đài của các lãnh chúa, kể cho họ nghe những câu chuyện li kì của các hiệp sĩ, cũng có khi họ hát những bài hát ca ngợi ông chủ anh hùng khẳng khái, bà chủ diễm lệ yêu kiều. Hình thức sinh hoạt văn nghệ ấy làm cho cuộc sống tẻ nhạt của các lãnh chúa trong những lâu đài kín cổng cao tường trở nên vui vẻ, do đó các văn nhân ấy đã được các gia đình quý tộc nuôi làm thực khách để chuyên môn mua vui cho họ. Văn học kị sĩ vì vậy càng có điều kiện phát triển.

Văn học kị sĩ thường được bắt nguồn từ những câu chuyện được lưu truyền trong nhân dân, nhưng nhân vật chính trong đó được xây dựng thành một con người mang đầy đủ các tính cách của giới kị sĩ, đó là trung thành với lãnh chúa, ngoan đạo, tôn thờ người đẹp và dũng cảm trong chiến đấu, nhất là đối với dị giáo.

Văn học kị sĩ có thể chia làm hai loại chính là anh hùng ca và thơ trữ tình. Bài ca Rôlăng, Bài ca Xít, Bài ca Nibêlunghen là những bản anh hùng ca tương đối nổi tiếng lúc bấy giờ.

Bài ca Rôlăng được sáng tác vào khoảng năm 1100 ở Pháp, dựa vào câu chuyện dân gian kể về cuộc chiến tranh giữa Sáclơmanhơ và người Arập ở Tây Ban Nha năm 778.

Sau khi vây đánh thành Xaragôxơ ở Tây Ban Nha do người Arập thống trị không thành công, người Phrăng phải kí hòa ước với người Arập để rút quân về nước. Nhưng do sự phản trắc của người Arập, hậu quân của Sáclơmanhơ do Bá tước Rôlăng chỉ huy đã bị quân Arập phục kích và tiêu diệt ở đèo Rôngxơvô thuộc vùng núi Pirênê. Trong giờ phút nguy nan ấy, Rôlăng đã tỏ ra hết sức trung thành với vua của mình và đã dũng cảm chiến đấu cho đến chết. Bài trường ca này dài đến 1.400 câu.

Bài ca Xít xuất hiện vào thế kỉ XII ở Tây Ban Nha, nội dung miêu tả sự đấu tranh giữa người Tây Ban Nha và người Arập, trong đó bao gồm cả cuộc đấu tranh với Hồi giáo. Bài ca Nibêlunghen xuất hiện vào thế kỉ XIII ở Đức miêu tả sự đấu tranh của người Buốcgônhơ chống lại người Hung nô vào thế kỉ V.

Còn loại thơ trữ tình thì chủ yếu phát triển ở Đức và Pháp. Tình yêu lãng mạn, say đắm và mạo hiểm kiểu kị sĩ là chủ đề của loại thơ này mà tác phẩm tiêu biểu nhất là Tơrixtăng và Ydơ.

Bắt nguồn từ một truyền thuyết lưu hành trong các bộ lạc Xentơ và được bổ sung bằng một số chi tiết bắt chước câu chuyện cánh buồm đen và cánh buồm trắng trong thần thoại Êgiê, tác phẩm này miêu tả tình yêu mãnh liệt giữa Tơrixtăng và Ydơ:

"Ydơ là ngươi yêu của tôi, Ydơ là cả cuộc đời của tôi, sự sống và sự chết của tôi đều do nàng định đoạt".

"Thiếu tôi nàng không thể sống, và tôi cũng không sống được nếu thiếu nàng".

Văn học thành thị ra đời vào khoảng giữa thế kỉ XII, khi tầng lớp thị dân đang ngày một lớn mạnh. Nguồn gốc của dòng văn học này cũng là dân ca và những truyện dân gian do những người thợ thủ công vốn là nông nô đưa từ nông thôn vào thành thị. Vì vậy loại văn học này viết bằng tiếng nói của nhân dân và nội dung mang tính chất chống lại phong kiến và chống lại giáo hội Thiên Chúa rất rõ rệt.

Văn học thành thị bao gồm các hình thức thơ, kịch, truyện ngắn và thường mang tính chất trào phúng nhằm đả kích giai cấp phong kiến, vạch trần sự tham lam và những hành vi xấu xa của tầng lớp giáo sĩ, đồng thời miêu tả sự thông minh tháo vát của nhân dân. Những truyện ngắn tương đối tiêu biểu là Di chúc của con Lừa, Thầy lang vườn.

"Di chúc của con Lừa" kể chuyện một linh mục đã chôn con lừa của mình vào đất thánh của giáo hội nên bị phạt, nhưng theo lời trăn trối của con lừa, đem nộp cho giáo chủ một số tiền nên được tha. Thầy lang vườn kể chuyện một nông dân làm cho một công chúa đang bị hóc xương bật cười mà lành. Từ đó cả thành phố đến nhờ anh ta chữa bệnh. Để khỏi bị quấy rầy, anh ta đi nói chuyện với từng người, yêu cầu người bị bệnh nặng nhất phải hi sinh mình để thiêu lấy tro chữa cho những người khác, vì vậy ai cũng bảo mình là không có bệnh nữa.

Tác phẩm nổi tiếng nhất là Truyện con cáo, trong đó các con vật đã được nhân cách hóa và tượng trưng cho các hạng người khác nhau: sư tử đại biểu cho vua, gấu chó đại biểu cho lãnh chúa phong kiến, chó sói đại biểu cho kị sĩ, lừa đại biểu cho linh mục, con cáo xảo quyệt đại biểu cho thị dân, các loài vật nhỏ bé như gà, thỏ, ốc sên đại biểu cho nhân dân.

Nội dung chủ yếu của truyện này nói về sự tranh chấp giữa con cáo Rơna (Renart) tinh khôn và con chó sói Idăngranh (Isengrin) ngu độn, đồng thời cũng đề cập tới sự hà hiếp của con cáo đối với những con vật nhỏ.

"Truyện con cáo" lúc đó được đông đảo người đọc rất ưa thích và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng: Phlăngđrơ, Anh, Đức, Ý. Người ta ham đọc truyện này đến nỗi các giáo chủ phải kêu lên rằng các tu sĩ thích xem "Truyện con cáo" hơn là truyện các thánh tử vi đạo.

Kịch của thành thị bắt nguồn từ lôi biểu diễn hóa trang của nhân dân và phần nhiều mang tính chất hài hước, châm biếm. Tác phẩm nổi tiếng nhất lúc bấy giờ là kịch "Rôbanh và Mariông" của Ađamđơlahan (Adam de la Halle, 1238-1286), nội dung miêu tả mối tình trung thực giữa một chàng trai và cô gái chăn cừu.

2.4 Nghệ thuật kiến trúc

Trong sự suy thoái chung vể văn hóa, thời sơ kì phong kiến, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc kiểu La Mã hoàn toàn bị tàn tạ. Lúc đó các giáo đường và các lâu đài của lảnh chúa phong kiến đều làm bằng gỗ. Đến thời Sáclơmanhơ, kiểu kiến trúc La Mã được khôi phục nhưng về nghệ thuật thì thô kệch, nặng nề chứ không được đẹp như các công trình kiến trúc thời cổ đại. Thời kì này, nhà thờ xây bằng đá mặt bàng hình chữ thập, tường dày, cửa sổ nhỏ, mái tròn, cột to và thấp. Nơi cửa ra vào có tháp chuông nhọn và đồ sộ. Bên trong nhà thờ được trang sức bằng những bức tường thô sơ và những bức tranh tô màu lòe loẹt.

Đến nửa sau thế kỉ XII, ở miền Bắc nước Pháp xuất hiện một kiểu kiến trúc mới gọi là kiến trúc Gôtích. Đặc điểm của lối kiến trúc này là vòm cửa nhọn, nóc nhà nhọn, bên ngoài có tháp cao vút, tường tương đối mỏng, cửa sổ lớn và được trang sức bằng nhiều loại kính màu làm cho trong nhà có đầy đủ ánh sáng. Trước cửa lại có nhiều bức phù điêu sinh động.

Lối kiến trúc này rất phù hợp với yêu cầu làm tăng thêm vẻ uy nghiêm của tôn giáo, nên trước hết được áp dụng để xây dựng các giáo đường, ngoài ra còn được dùng để xây các công sở và dinh thự. Hơn nữa, với những tháp chuông cao vút hơn 100 mét có thể nhìn thấy từ xa, với sự trang trí đẹp đẽ bề thế của toàn bộ tòa nhà, các công trình kiến trúc này không những thể hiện một bước tiến mới về nghệ thuật xây dựng mà còn thể hiện sức mạnh và sự giàu có của cư dân thành thị lúc bấy giờ. Do những ưu điểm đó, lối kiến trúc Gôtích này được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước Tây Âu như Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Tiệp Khắc...

Tóm lại, từ thế kỉ XI đến XIII, tuy giáo hội Thiên chúa vẫn giữ vai trò lũng đoạn về tư tưởng, nhưng về văn hóa đã đạt được những thành tựu nhất định. Tình hình đó là một trong những tiền đề dẫn đến phong trào Văn hóa Phục hưng, một bước phát triển nhảy vọt về văn hóa trong những thế kỉ sắp tới.

Trên đây là nội dung bài giảng Bài 2: Văn hóa Tây Âu từ thế kỉ V đến thế kỉ XIV  được eLib tổng hợp lại nhằm giúp các bạn sinh viên có thêm tư liệu tham khảo. Hy vọng đây sẽ là tư liệu giúp các bạn nắm bắt nội dung bài học dễ dàng hơn.

Ngày:23/11/2020 Chia sẻ bởi:

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM