Soạn bài Nghị luận trong văn bản tự sự Ngữ văn 9 đầy đủ

Bài soạn Nghị luận trong văn bản tự sự Ngữ văn 9 tập 1 giúp các em nắm được các yếu tố nghị luận trong văn bản tự sự, đồng thời rèn luyện kĩ năng viết một đoạn văn hoặc một bài văn nghị luận có yếu tố tự sự. eLib đã biên soạn bài này một cách chi tiết và đầy đủ nhất để các em tham khảo. Chúc các em học tập tốt!

Soạn bài Nghị luận trong văn bản tự sự Ngữ văn 9 đầy đủ

1. Soạn câu 1 trang 138 SGK Ngữ văn 9 đầy đủ

a) Đoạn trích (a) là đoạn suy nghĩ nội tâm của nhân vật ông giáo. Ông đối thoại với chính mình rằng : vợ mình không ác -> Đoạn văn có yếu tố nghị luận.

- Nêu vấn đề: (câu 1) Nếu ta không cố tìm…với họ.

- Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải người ác , nhưng thị khổ quá rồi.(vì sao vậy?).

- Khi người ta đau chân thì chỉ nghĩ đến cái chân đau(quy luật tự nhiên).

- Khi khổ quá thì không nghĩ đến ai được.

- Bản tính tốt nhưng bị những buồn đau , lo lắng che lấp mất.

- Kết thúc vấn đề:Tôi chỉ buồn chứ không nỡ giận.

+ Hình thức: Đoạn văn chứa nhiều câu , từ mang tính chất nghị luận : Nếu…thì, Vì…nên, Khi(A)…thì (B)

- Câu văn: sử dụng câu ghép có 2 vế có cặp từ hô ứng.Các câu khẳng định ngắn gọn, khúc triết như diễn đạt các chân lí.

⇒ Các đặc điểm, ndung, hình thức, cách lập luận đều rất phù hợp với tính cách nhân vật ông giáo : 1 người có học thức , hiểu biết, giàu lòng thương người luôn suy nghĩ , trăn trở, dằn vặt về cách sống, cách nhìn đời nhìn người

b) Đoạn trích (b) là 1 phiên toà có bị cáo và người buộc tội diễn ra dưới hình thức nghị luận phù hợp với 1 phiên toà . Mỗi bên đều có lí lẽ và cách lập luận của mình.

- Kiều ở 4 câu đầu: sau câu chào mỉa mai là lời đay nghiến"càng cay nghiệt càng chuốc lấy oan trái" (khẳng định: càng…càng).

- Hoạn Thư (lập luận ở 8 câu tiếp) với 4 luận điểm:

+ Tôi là đàn bà ghen tuông là chuyện thường tình.

+ Tôi đã đôi xử tốt với cô khi ở gác viết kinh ->Cô trốn khỏi nhà tôi cũng chẳng đuổi theo(kể công)

2. Soạn câu 1 luyện tập trang 139 SGK Ngữ văn 9 đầy đủ

- Đoạn trích (a) trích từ tác phẩm Lão Hạc của Nam Cao. Đây có thể coi là cuộc đối thoại ngẫm, ông giáo đối thoại với chính mình, thuyết phục mình rằng: vợ tôi không ác và vì vậy chỉ buồn chứ không nỡ giận. Và để đi đến kết luận, ông giáo đã lập luận bằng cách đưa ra những luận điểm sau:

+ Nêu vấn đề:Đối với những người xung quanh ta, nếu ta không cố mà hiểu họ thì ta luôn có cớ để tàn nhẫn và độc ác với họ.

+ Phát triển vấn đề: Vợ tôi không phải là người ác, nhưng sở dĩ thị trở nên tàn nhẫn, ích kỉ là vì thị đã quá khổ rồi. Bởi vì:

  • Một người đau chân thì luôn chỉ nghĩ đến cái chân đau của mình.

  • Khi ngưòi ta quá khổ thì người ta không thể nghĩ đến ngưòi khác.

  • Và vì vậy, cái bản tính tốt đẹp của người ta thường dễ bị những nỗi lo lắng, buồn đáu, ích kỉ che lấp mất.

+ Kết thúc vấn đề: Tôi biết vậy, nên chỉ buồn chứ không nỡ giận.

- Có thể nói, trong đoạn trên có rất nhiều câu mang tính chất nghị luận (các câu chứa các quan hệ từ, từ hô ứng với nhau). Đó hầu hết là các câu khẳng định, ngắn gọn và rành mạch để diễn đạt những điều kiện hiển nhiên, cách lập luận đó phù hợp với tính cách của nhân vật ông giáo – một người hiểu biết, giàu tình thương, luôn suy nghĩ và trăn trở về cách sống, cách nhìn đòi.

3. Soạn câu 3 luyện tập trang 139 SGK Ngữ văn 9 đầy đủ

- Đoạn trích (b) trích từ tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, đoạn Kiều báo ăn báo oán. Đây là cuộc đốì thoại giữa Thuý Kiều và Hoạn Thư, với hình thức giông như một phiên toà, trong đó, Thuý Kiều là quan toà buộc tội, Hoạn Thư là bị cáo. Trong “phiên toà” này, mỗi bên đều có những lí lẽ, dẫn chứng… có sức thuyết phục đối với mọi người.

+ Lập luận của Thuý Kiều thể hiện ở những câu thơ đầu:

"Đàn bà dễ có mấy tay,

Đời xưa mấy mặt đời này mấy gan!

Dễ dàng là thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều."

+ Sau những lời chào mỉa mai là những lời đay nghiến của nàng đối với Hoạn Thư: xưa nay đàn bà có mấy ai mà lại ghê gốm, cay nghiệt như Hoạn Thư, và càng cay nghiệt lắm thì càng chuốc lấy vào mình nhiều oan trái.

"Hoạn Thư bèn đáp lại rằng:

Rằng: “Tôi chút phận đàn bà,

Ghen tuông thi cũng người ta thường tình.

Nghĩ cho khi gác viết kinh,

Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.

Lòng riêng riêng những kính yêu,

Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.

Trót lòng gây việc chông gai,

Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng”.

+ Chỉ bằng tám câu thơ nhưng Hoạn Thư đã đưa ra được những lập luận hết sức sắc sảo:

  • Thứ nhất: Tôi là đàn bà nên ghen tuông cũng là chuyện thường tình.

  • Thứ hai: Nhớ khi xưa ở Quan Âm Các viết kinh, tôi đã đối xử tôt với cô, và khi cô bỏ trốn, mang theo của cải của nhà tôi, tôi đã không đuổi theo.

  • Thứ ba: Tôi và cô đều lấy chung chồng, nên rất khó nhường cho nhau.

  • Thứ tư: Giờ tôi trót gây đau khổ cho cô, nên chỉ còn trông cậy vào sự khoan dung độ lượng của cô.

+ Chính nhờ những lí lẽ đó mà Kiều đã:

  • Tha ra thì cũng may đời,

  • Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.

+ Cũng chính vì điều đó mà Hoạn Thư đã được Kiều tha bổng và lại còn được khen: Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.

Ngày:09/10/2020 Chia sẻ bởi:

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM